Giải pháp mà Chúng tôi mang đến là quyền lợi mà khách hàng nhận được

Thế nào là phạm tội với người già yếu?

Thế nào là phạm tội với người già yếu?
Thế nào là phạm tội với người già yếu?

Thế nào là người già yếu? Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi tắt là BLHS năm 2015), tình tiết “phạm tội đối với người già yếu” được quy định là tình tiết định khung của một số tội phạm như: Tội cố ý gây

Thế nào là người già yếu?

Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi tắt là BLHS năm 2015), tình tiết “phạm tội đối với người già yếu” được quy định là tình tiết định khung của một số tội phạm như: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134); Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 137); Tội hành hạ người khác (Điều 140); Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157); Tội cướp tài sản (Điều 168); Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170); Tội cướp giật tài sản (Điều 171); Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình (Điều 185); Tội cưỡng bức lao động (Điều 297); Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội (Điều 368); Tội ra bản trái pháp luật (Điều 370); Tội ra quyết định trái pháp luật (Điều 371); Tội dùng nhục hình (Điều 373); Tội bức cung (Điều 374); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật (Điều 377). Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản nào giải thích thế nào là “người già yếu”.

Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định tình tiết “người phạm tội là người già” là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; tình tiết “phạm tội đối với người già” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã thay khái niệm “người già” bằng khái niệm “người đủ 70 tuổi trở lên” tại điểm o khoản 1 Điều 51 (tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự) và điểm i khoản 1 Điều 52 (tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự).

“Người quá già yếu” là tình tiết xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt quy định tại Điều 64 BLHS năm 2015. Tại điểm a tiểu mục 4.1 Mục 4 Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn “Người quá già yếu” được xác định là người từ 70 tuổi trở lên hoặc người từ 60 tuổi trở lên nhưng thường xuyên đau ốm”.

Theo Thông tư liên tịch số 04/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP, người đã quá già yếu là người từ 70 tuổi trở lên hoặc người từ 60 tuổi trở lên nhưng thường xuyên ốm đau.

TAND Tối cao cho biết trong quá trình triển khai thi hành BLHS, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao đã ban hành nhiều Nghị quyết hướng dẫn áp dụng quy định của BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Trong đó, Nghị quyết 03/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm mức hình phạt đã tuyên, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt, hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù… đã hướng dẫn tình tiết đã quá già yếu như sau:

Đã quá già yếu quy định tại Điều 64 BLHS là người bị kết án thuộc một trong các trường hợp sau:

– Từ đủ 70 tuổi trở lên.

– Từ đủ 60 tuổi trở lên nhưng thường xuyên ốm đau, phải nằm điều trị tại bệnh viện liên tục từ ba tháng trở lên hoặc không liên tục nhưng phải nằm điều trị tại bệnh viện từ ba lần trở lên (mỗi lần từ 01 tháng trở lên), không có khả năng tự phục vụ bản thân, có kết luận bằng văn bản của Hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh, cấp quân khu trở lên hoặc bệnh viện.

Bên cạnh đó, TAND Tối cao đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành ban hành Thông tư liên tịch số 04/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP quy định phối hợp trong thực hiện trình tự, thủ tục giảm thời hạn, miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ và miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú, quản chế còn lại đã hướng dẫn trường hợp người đã quá già yếu như sau:

Người đã quá già yếu là người từ 70 tuổi trở lên hoặc người từ 60 tuổi trở lên nhưng thường xuyên ốm đau.

Như vậy, khái niệm “người già” và “người quá già yếu” có hay không tương đồng với khái niệm “người già yếu” hay không? Việc không quy định cụ thể về “người già yếu” gây khó khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật.

Phạm tội với người già yếu được quy định như thế nào?

– Phạm tội với người đủ 70 tuổi trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Cụ thể, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự thì phạm tội với người đủ 70 tuổi trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

– Phạm tội với người đủ 70 tuổi trở lên là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với tội Bắt cóc con tin được quy định tại khoản 2 Điều 301 Bộ luật Hình sự.

– Phạm tội với người già yếu là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các tội sau:

  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134);
  • Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (Điêu 137);
  • Tội hành hạ người khác (Điều 140);
  • Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157);
  • Tội cướp tài sản (Điều 168);
  • Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170);
  • Tội cướp giật tài sản (Điều 171);
  • Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình (Điều 185);
  • Tội cưỡng bức lao động (Điều 297);
  • Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội (Điều 368);
  • Tội ra bản án trái pháp luật (Điều 370);
  • Tội ra quyết định trái pháp luật (Điều 371);
  • Tội dùng nhục hình (Điều 373);
  • Tội bức cung (Điều 374);
  • Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật (Điều 377).

4/5 - (1 bình chọn)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked*